Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Đinh lăng lá nhỏ

----------------------------------
SÂM CỦA NGƯỜI VIỆT
----------------------------------
Đinh Lăng lá nhỏ,
Quá tuổi ba năm.
Rễ dùng ngâm rượu,
Lợi tiểu, nhuận tràng.


Thân cành sao vàng,
Trị phong tê thấp.
Hạ sốt khẩn cấp,
Chống đau dạ con.
Nem nắm lá non,
Rượu còn nem hết.
Dùng lá để tết,
Món gỏi Nhệch ngon.

Lá còn trị bệnh,
Gối mỏi lưng đau,
Ăn sống như rau,
Bệnh tiêu tật mất.
Lá chữa lành chứng,
Cúm cảm váng đầu.
Lá đem vò rầu,
Đắp tan mụn nhọt.

Đinh Lăng tổng hợp
(Thân, rễ, lá, cành)
Băm nát tanh bành,
Phơi khô, sao, sắc,
Được thang đậm đặc.
- "Dược liệu Thần Tiên"
Hoặc rượu ngâm liền,
Thành - "Sâm cường lực".
Tác dụng rất thực
Trị thể lực suy,
Nhược cơ yếu gầy
Thoát tay thầy thuốc.

Vài lời nhem nhuốc
Chia sẻ thành tâm
Mời tiếp sưu tầm
Lãn Ông Hải Thượng.
-------------
<c.Ếch>
-------------

Thành phần hoá học:
Trong thân củ đã tìm thấy có các alcaloit, glucozit, saponin, flavonoit, tanin, vitamin B1 các axit amin trong đó có lyzin, xystei, và methionin … là những axit amin không thể thay thế được (Ngô ứng Long – Viện quân y, 1985).

Tác dụng dược lý:
Năm 1961, các khoa dược lý, dược liệu và giải phẫu bệnh lý Viện y học quân sự Việt Nam nghiên cứu tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể và một số tác dụng khác đã đi đến kết luận sau đây:
1. Nuớc sắc rễ (củ) có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự như nhân sâm.Tam thất và các cây khác cùng họ có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể (thí nghiệm trên chuột mình tròn lội nước theo phương pháp (thí nghiệm cấp tính của I. I. Brekman). Nhưng trên thí nghiệm trường diễn, tác dụng chóng hết và thường hay tích luỹ.
2. Với liều 0,1 ml cao lỏng Đinh lăng cho 20g thể trọng sống làm giảm hoạt động của chuột nhắt trắng.
3. Hoạt chất có trong thân rễ tác dụng trực tiếp trên cơ tim ếch, cô lập (theo phương pháp Straub) với liều nhất định làm giảm trương lực cơ tim, làm tim co bóp yếu và thưa, tiến tới tim ngừng đập.
4. Dung dịch nước 0,2 đến 1% rễ Đinh lăng gây co mạch tai thỏ cô lập theo phương pháp Kravkov.
5. Với liều 0,5 ml dung dịch cao Đinh lăng 100-200% trên 1 kg thể trọng tiêm tĩnh mạch vành tai đều tăng cường hô hấp về biên độ và tần số: Huyết áp nhất thời hạ xuống.
6. Trên tử cung tại chỗ, với liều 1 ml dung dịch cao Đinh lăng 100% cho 1 kg thể trọng tiêm tĩnh mạch vành tai làm tăng co bóp tử cung nhẹ.
7. Đinh lăng có tác dụng tăng tiết niệu gấp trên 5 lần so với bình thường với liều uống 2 ml dung dịch Đinh lăng 100% cho 100g thể trọng (thí nghiệm trên chuột bạch Trung Quốc).
8. Liều độc: ít độc, so với Nhân sâm còn ít độc hơn. Giải phẫu bệnh lý những chuột chết vì liều độc thì thấy gây tổn thương nặng tổ chức cơ sở các tạng nhất là ở gan, thận, tim, não, cuối cùng chết. Liều độc tiêm phúc mạc DL50 của Đinh lăng là 32,9g/kg trong khi đó DL50 của nhân sâm là 16,5g/kg, của Ngũ gia bì Liên Xô cũ (Eleutherococcus) là 14,5g/ kg, chứng tỏ Đinh lăng ít độc hơn 2 vị thuốc nhân sâm và ngũ gia bì Liên Xô cũ. Cho uống với liều 50g/kg thể trọng chuột vẫn sống bình thường.Độc tính trường diễn thấy xung huyết ở gan, tim, phổi, dạ dày, ruột, biến loạn dinh dưỡng tim, gan, thận. Trước khi chết có hiện tượng ỉa lỏng, xù lông, mệt mỏi, kém ăn, sụt cân.
9. Làm tăng sức đề kháng của chuột đối với tác hại của bức xạ siêu cao tần và thấy có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột hơn so với một số thuốc như Ngũ gia bì Eleutherococcus của Liên Xô cũ, Đương qui, Ba kích. Tác dụng này có thế là do tính chất bổ chung nhưng còn có thể do cơ chế điều nhiệt của Đinh lăng.
10. Ngô ứng Long và Xavaev (Liên Xô cũ) đã cùng nhận thấy cây thuốc có tác dụng tốt đối các nhà du hành vũ trụ khi luyện tập trong tư thế tĩnh, đầu dốc ngược.Thực nghiệm trên người, viên bột rễ làm tăng khả năng chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể dục, thể thao trong các nghiệm pháp gắng sức cũng như luyện tập.

1 - Đinh lăng còn gọi là cây gỏi cá (vì nhân dân thường lấy lá để ăn gỏi cá), nam dương sâm.

- Nó là một loại cây phổ biến được trồng làm cảnh ở khắp nơi. Nhân dân thường dùng lá đinh lăng phơi khô đem lót gối hoặc trải gường cho trẻ nằm để đề phòng kinh giật; dùng lá sắc cho phụ nữ sau sinh uống thấy cơ thể nhẹ nhõm, khoẻ mạnh, có nhiều sữa; lá non có thể dùng làm rau ăn sống; lá đinh lăng phơi khô, nấu lên có mùi thơm đặc trưng, dân gian thường gọi là “mùi thuốc bắc”, lá tươi không có mùi thơm này. Thường sử dụng đinh lăng lá nhỏ (Panax fruticosum L.) để làm thuốc: dùng rễ (thường sử dụng cây 3 năm tuổi trở lên) rửa sạch, phơi khô để nguyên hoặc tẩm rượu gừng 5% sao qua, rồi tẩm mật ong 5% sao thơm, dược liệu có vị ngọt đắng, mùi thơm, tính mát; các loại đinh lăng khác ít hoặc không dùng làm thuốc; người Ấn Độ còn dùng đinh lăng làm thuốc hạ sốt, làm săn da và niêm mạc.


Đã từ lâu y học cổ truyền nước ta dùng đinh lăng lá nhỏ dưới dạng thuốc sắc, rượu ngâm hoặc bột khô để chữa các chứng ho, đau tức vú, tắc tia sữa, làm lợi sữa, làm thuốc tăng lực. Theo y học cổ truyền: rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết; lá đinh lăng có vị đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ; nói chung, ngoài tác dụng lương (làm mát) huyết và giải độc thức ăn, những tính chất khác của đinh lăng gần giống như nhân sâm. Hải Thượng Lãn Ông đã dùng rễ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắc cho phụ nữ sau khi sinh đẻ uống để chống đau dạ con và làm tăng tiết sữa. Có y gia gọi cây đinh lăng lá nhỏ là “cây sâm của người nghèo”.

2 - Những nghiên cứu của khoa học hiện đại ngày càng chứng minh sự đúng đắn kinh nghiệm của y học cổ truyền:

- Các nghiên cứu về hoá học cho thấy: rễ đinh lăng lá nhỏ 3 năm tuổi chứa hàm lượng hoạt chất cao trong vỏ như gluxit, saponin triterpenic, tanin; thân và lá cũng chứa chúng nhưng hàm lượng thấp hơn. Thành phần dịch chiết của đinh lăng lá nhỏ gần giống như nhân sâm Triều Tiên. Bột rễ đinh lăng lá nhỏ chứa 20 axit amin (trong đó có một số axit amin cơ thể không thể tổng hợp được), vitamin nhóm B và các nguyên tố vi lượng.
- Những nghiên cứu về dược lý cho thấy: nước sắc hay bột rễ đinh lăng lá nhỏ có tác dụng bổ, tăng sức dẻo dai của cơ thể bị suy nhược, làm ăn ngon, ngủ tốt, lên cân, làm nhịp tim sớm trở lại bình thường sau khi gắng sức… Vì vậy, các chế phẩm của đinh lăng lá nhỏ được dùng cho vận động viên trong thi đấu, bộ đội hành quân kéo dài; được Liên Xô sử dụng trong chương trình du hành vũ trụ và các nghiên cứu của Liên Xô gọi nó là “Thuốc sinh thích nghi”. Các nghiên cứu ở nước ta cũng cho thấy: bột rễ hay dịch chiết rễ đinh lăng lá nhỏ có khả năng tăng sức chịu đựng của cơ thể con người trong điều kiện nóng ẩm tốt hơn vitamin C và chè giải nhiệt. Dịch chiết rễ hay bột rễ còn có tác động ức chế men Monoamin Oxydaza (M.A.O) trên cơ thể (sâm Triều Tiên hay tam thất không có tác dụng này), nhờ vậy giúp duy trì việc dẫn truyền xung động thần kinh một cách liên tục và mạnh mẽ, gây nên sự kích thích sinh học cơ thể, làm cơ thể không mệt mỏi, có cảm giác sung sức, thoải mái, đó là tác dụng làm tăng lực của đinh lăng lá nhỏ; nó còn có tác dụng kích thích miễn dịch, tăng sức đề kháng đối với bệnh tật. Một nghiên cứu về dung dịch cao đinh lăng cho thấy: tăng biên độ điện thế não; tăng khả năng tiếp nhận của các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng; tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt; nhìn chung, dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt. Một vài nghiên cứu còn cho thấy nước sắc, rượu lá đinh lăng lá nhỏ có tác dụng ức chế các vi khuẩn sinh mủ và vi khuẩn đường ruột. Đinh lăng ít độc, còn ít độc hơn so với nhân sâm.
3-Một số ứng dụng:
3.1-Để bồi bổ cơ thể, tăng lực thường dùng các dạng sau:
- Thuốc ngâm rượu: rễ đinh lăng khô không sao tẩm 100g, tán nhỏ ngâm với 1 lít rượu 30-350 trong 7-10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều; ngày uống 2 lần, mỗi lần 6-10ml, uống trước bữa ăn 30 phút.
- Thuốc bột và thuốc viên: rễ đinh lăng đã sao tẩm (như trên) 100g tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 1-2g; hoặc trộn mật ong vừa đủ làm viên, mỗi viên 0,5g, ngày uống 2-4 viên chia 2 lần.
- Thuốc hãm: rễ đinh lăng đã sao tẩm 5-10g, hãm với nước sôi như hãm chè, chia uống nhiều lần trong ngày; chữa mệt mỏi, biếng hoạt động. Nếu để thông tia sữa thì dùng 30-40g đổ 500ml nước sắc còn 250ml, uống nóng chia 2-3 lần trong ngày.
- Thuốc sắc: nấu sôi khoảng 200ml nước, cho 150-200g lá đinh lăng tươi vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút mở nắp ra và đảo qua đảo lại vài lần; sau 5-7 phút, chắt ra để uống nước đầu tiên; đổ tiếp 200ml nước vào để nấu nước 2 và uống tiếp. Cách này còn có thể ngừa dị ứng.
3.2-Một số ứng dụng khác:
- Chữa nổi mề đay, mẩn ngứa: lá đinh lăng khô 80g, đổ 500ml nước sắc còn 250ml, chia 2 lần uống trong ngày.
- Nhai nuốt lá với một ít đường phèn để trị hóc (mắc) xương cá
- Ngoài ra còn dùng thân và cành lá đinh lăng sắc uống liều 20-30g/ngày chữa đau lưng, mỏi gối, phong thấp.

LƯU Ý: 

Dùng rễ đinh lăng với liều cao, sẽ bị say, có hiện tượng mệt mỏi đối với cơ thể.
Do giá trị y học to lớn và tính phổ biến của cây đinh lăng lá nhỏ (dễ tìm, dễ trồng và dễ sử dụng), có thể ví nó là “Cây sâm của mọi nhà”; mỗi gia đình nên trồng cây đinh lăng lá nhỏ vừa làm cây cảnh, vừa sử dụng làm thuốc (chủ yếu là mặt bổ dưỡng, tăng lực)

CỦ GAI CHỮA CHỨNG "HỮU SINH VÔ DUỠNG"

- Người mẹ sinh con bình thường, nhưng sinh đứa nào chết đứa đó hoặc sớm hay muộn gọi là “Hữu sanh vô dưỡng”. Để
chữa chứng bệnh này, Cha Chính Túc, Địa Phận Thái Bình đã cho một phương thuốc đơn giản, nhưng hiệu quả lạ
thường. Khi còn là cậu nhỏ glúp lễ cho Cố Y Pha Nho; một hôm ngài được Cha xứ sai phơi cuốn sách các bài thuốc
gia truyền, tháo rời từng trang, sách viết bằng chữ Nho, ngài đọc được bài thuốc chữa người “Hữu sanh vô dưỡng”. Đến
khi về Đại Chủng Viện Nam Định học, phải đi qua bến đò Cựa Gà, gặp lúc trời mưa, ngài ghé nhà một người không
Công Giáo tạm trú, sau câu chuyện hỏi thăm xã giao, biết được gia đình này không con vì chứng ''hữu sanh vô dưỡng'', ngài nhớ lại bài thuốc đã đọc được khi phơi sách như sau:
- Lấy một niêu đất còn mới, nấu cơm nếp, khi cơm sôi thì lấy mấy củ Gai cắm ngược đầu xuống đáy nồi, nấu chín cơm
thì ăn hết cả cơm cả củ. Chỉ có thế thôi mà từ đó bà mẹ này sanh đứa nào, đạt đứa đó, con cái đề huề.
- Củ Gai, lá nó dùng làm bánh ăn, gọi là bánh gai; vỏ nó làm sợi rất bền chắc. Củ luộc ăn chữa bệnh TIỂU ĐÊM.

Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

TOA THUỐC BÍ TRUYỀN BÁN CHI LIÊN - BÁCH HOA XÀ TRỊ BÁCH BỆNH, ĐẶC BIỆT CHỨNG UNG THƯ.

1/ Toa thuốc này có thể trị được nhiều chứng nội thương ngoại cảm, đặc biệt các chứng UNG THƯ về ruột, gan, dạ dày, phổi, dạ con, vú ...
2/ Cũng trị được các chứng ứ huyết, mất máu, ngứa ngáy, bệnh trĩ, ho nóng, máu cao, tim.
3/ Trừ được các chứng độc và nóng nơi lục phủ, ngũ tạng v.v.
4/ Riêng chứng đau ruột và dạ dày là mau khỏi hơn cả, chỉ trong 1 ngày đã thấy có hiệu quả ngay.
5/ Thuốc này có thể ngừa bệnh, lại tăng cường sinh lực, miễn nhiễm và kháng độc.
Toa thuốc gồm có 2 vị dược thảo đơn giản, do một tội nhân bị án tử hình, trước 3 ngày bị xử tử, đã truyền lại cho hậu thế
để làm phúc.
Tại các tiệm thuốc Bắc lớn đều có bán. Nên mua cả pound cho tiện lợi và rẻ hơn:

* Bán chi liên: l pound.
* Bách hoa xà thiệt thảo: 2 pounds.


CÁCH NẤU:

Có thể chia ra nấu làm nhiều lần, nhưng "bách hoa xà" phải nhiều gấp đôi "bán chi liên". Nấu nồi nào cũng được, không kỵ sắt… Trước khi nấu phải rửa sạch hết đất cát. Đổ nước ngập thuốc, nấu sôi thì vặn lửa nhỏ vừa, để lâu chừng 3-4 giờ cho thúc hết thuốc ra. Gạn ra để nguội rồi cất vào tủ lạnh.

CÁCH DÙNG:

- Uống ngày đêm thay nước trà.
- Nếu chỉ uống để đề phòng bệnh tật, mỗi ngày uống 1-2 lần, Có thể uống cả đời mà không hại gì.

CƯỚC CHÚ:

1 - Nếu trị các chứng độc, nhất là bệnh ung thư, khi đi tiểu thường thấy có máu mủ. Đó là dấu hiệu rất tốt.
2 - Trong thời gian uống trị bệnh, không được uống bất cứ một thứ nước nào, ngoại trừ nước lạnh. Tuyệt đối kiêng
rượu, bia, vì làm cho thuốc trở thành vô hiệu.
3 - Khi chứng ung thư bị lở ra ngoài da, có thể sắc đặc nước "bán chi liên" để chà xát ngoài da.


Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

LÁ MUỒNG - TRỊ SÂU QUẢNG


Bị vết thương độc mà 
trị không khỏi sớm, vi trùng ăn sâu dần, be bờ chung quanh, mỗi ngày mỗi ăn sâu thêm, rất khó
trị, vết
 thương biến thành sâu quảng, rất đau đớn có người phải cắt chân. 
- Tìm nắm lá Muồng, giã với chút muối rồi đắp, chỉ làm vài lần đã thấy miệng thu lại dần và thịt cũng dày lên. Làm tiếp 3 > 4 ngày nữa thấy ăn da non và khỏi hẳn.

Lá Muồng, mọc ở bờ bụị, trái nó tròn hơi dài, giống quả đậu xanh, có hạt khô, lắc thấy kêu bên trong.

Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

BỊ CHÓ DẠI CẮN

CÁCH THỬ CHÓ DẠI CẮN

Khi bị chó cắn mà không biết là chó dại hay chó khôn, hãy thử bằng cách sau:
- Lấy cây Sả (bỏ lá), giã nát, lấy vải gói lại, chà xuôi tử gáy, theo dọc xương sống và 2 bên xương, tới xương cùng. Hễ thấy 2 bên có gân máu đỏ, nổi lên như sợi chỉ, là chó điên cắn rồi, hãy cấp tốc đi chích ngừa ngay. 


NGƯỜI BỊ CHÓ DẠI CẮN ĐÃ LÊN CƠN

Người thợ rèn nung thanh sắt cho đỏ rồi đập mỏng làm dao, liềm... sau đó nhúng dao (tôi) vào thùng nước. Người ta múc nước trong thùng này cho nguời bị chó điên cắn sẽ trừ được nọc và khỏi bệnh, không cần dùng thuốc nào cả >>> Có thế lấy thanh sắt nung đỏ rồi nhúng vào chậu nước nhiều lần, sẽ có nước giống như nước thợ rèn làm. 
Kinh nghiệm trên đã cứu được nhiều người.

Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

CỦ GỪNG

Càng già càng cay
Là tay Gừng củ.
Gia vị trấn thủ
Bếp của mọi nhà.
Gừng cũng thật là
Dược thảo thần ma.
Diệt cảm, tiêu đờm,
Ho hen, phế quản,
Ói, nôn, thổ tả,
Bất toại, trúng phong,
Gừng thay kháng sinh,
Giảm đau bệnh khớp.
Gừng còn cầm tốt,
Máu chảy chân răng.
Gừng cũng thổi phăng,
Phong hàn, lạnh bụng.
Dùng gừng phòng bệnh,
Nhồi máu cơ tim.
Chống bệnh ung thư.
Tăng cường tình dục.
Dùng Gừng trị sán,
Băng bó vết thương.
Loại chứng viêm xoang.
Giúp lành tiêu hóa.
Chứng mồ hôi trộm.
Khí nghịch tâm can.
Gừng giúp chị em,
Đả thông kinh nguyệt.
Gừng thật là tuyệt,
Gia vị - thuốc thần
Nhà nào cũng cần,
Trồng cây Gừng củ.
-----------------------------
           <c.Ếch>
-----------------------------

Thành phần hoá học:
- Trong củ Gừng có 1-3% tinh dầu mà thành phần chủ yếu là a- camphen, b-phelandren một carbur là zingiberen một alcol sesquiterpen, các phenol (cineol, citral, borneol, geraniol, linalol, zingiberol. Ngoài ra còn có 3,7% lipid, tinh bột và 5% nhựa dầu trong đó có các chất cay như zingeron, zingerol, và shogaol.
- Trong củ gừng vàng có trên 400 chất khác nhau, bao gồm tinh dầu, chất béo, các vitamin B1, B2, B6, C và nhiều chất khoáng như kali, canxi, sắt, kẽm... 

Tác dụng dược lý của củ Gừng:
Các nghiên cứu y khoa cho thấy, gừng vàng có nhiều tác dụng dược lý như ngăn ngừa cơn đau thắt ngực, kích thích tiêu hóa, tăng khả năng tình dục... Tuy nhiên, những người sắp hoặc vừa phẫu thuật, người đang bị chảy máu, cảm nắng không nên dùng dược liệu này.
Gừng vàng có những dược tính sau:
- Ngăn chặn sự tạo thành cục máu đông, nhờ đó có thể ngăn ngừa chứng đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim (tác dụng này tương tự aspirin nhưng không gây viêm loét và xuất huyết dạ dày). Người bị bệnh tim mạch nên dùng gừng tươi hằng ngày vào sáng, trưa, tối, mỗi lần 1 lát mỏng (khoảng 2 g), sẽ không phải dùng Aspirin.
- Ngăn cản sự tăng cholesterol trong máu, có tác dụng với các bệnh tăng mỡ máu, nhiễm mỡ gan, huyết áp cao.
- Giúp cho hệ thống miễn dịch làm việc có hiệu quả, tăng khả năng chống lạnh, chịu lạnh và hạn chế các bệnh viêm nhiễm.
- Ức chế thần kinh trung ương, ức chế hoạt tính của histamin, dẫn đến giảm co thắt cơ trơn, giảm cơn dị ứng. Do đó, gừng có tác dụng tốt trong việc chữa nôn mửa (do thai nghén, say tàu xe hay do hóa trị, xạ trị) mà không gây phản ứng phụ như các thuốc chống nôn hóa dược.
- Giúp hệ thống tiêu hóa làm việc tốt hơn nhờ khả năng kích thích tiết nước bọt, dịch mật, kích thích sự vận chuyển trong đường tiêu hóa. Kích thích sự sinh trưởng các loại vi khuẩn có ích trong hệ tiêu hóa, có tác dụng chống rối loạn tiêu hóa do kháng sinh. Gừng cũng làm giảm bài tiết dịch vị, ức chế sự co bóp dạ dày, ức chế sự phát triển của các loại vi trùng gây bệnh dạ dày.
- Chống phù nề, giảm đau, chống hen. Gừng được dùng để điều trị có hiệu quả các chấn thương phần mềm (thuốc đắp và uống) bong gân, hen, ho lâu không khỏi, đau răng, thấp khớp.
- Tăng tinh dịch và tính năng động của tinh trùng (70-90%), tăng khả năng tình dục (cho cả nam và nữ).
Ngoài ra, gừng còn có tác dụng phòng sỏi mật, phòng chống các bệnh ung thư, chống lão hóa, giảm sốt, điều hòa thân nhiệt, giúp ra mồ hôi, chống nhiễm độc gan do thuốc và hóa chất.
Sau đây là một số điều cần lưu ý khi dùng gừng:

- Tránh dùng gừng với aspirin và coumarin (phải cách xa 4 giờ).
- Không dùng gừng cho người chuẩn bị mổ và sau mổ, người đang chảy máu như băng huyết, ho ra máu, nôn ra máu, tiểu ra máu, tiêu ra máu, trĩ ra máu, chảy máu cam, chảy máu răng.
- Không dùng gừng cho người bị cảm nắng, vã mồ hôi, sốt cao không rét.
- Không dùng gừng liều cao, nhiều ngày cho người tiểu đường, bệnh tim, phụ nữ có thai.

Sinh Khương
Càn Khương

CHỦ TRỊ:

* Cảm mạo. 
* Ho hen. 
* Tiêu đờm 
* Khí nghịch đưa lên cổ làm nghẹt thở.
* Thông kinh huyệt. 
* Giúp tiêu hóa. 
* Trị nôn (ói).
* 
Thổ tả.
* Bụng lạnh. 
* Trúng phong, bán thân bất toại. 
* Chân tay lạnh. 
* Phong hàn. 
* Mồ hôi trộm. 
* Băng bó vết thương. 
* Cầm máu khi nhổ răng. 
* Trị Sán Khí. 
* Viêm xoang có mủ.

1 - CẢM MẠO: 
Cảm nóng, cảm lạnh, cảm gió hoặc sốt:
- Dùng một nắm gừng tươi giã dập, nấu sôi kỹ rồi uống nóng, đắp mền cho ra mồ hôi.
- Cảm và ho nhiều đàm, khò khè khó thở: Lấy 7 lát gừng, 1 muỗm café trà tầu, nấu sôi kỹ, gạn nước, pha với nước
chanh tươi 1 quả, 1 muỗm rượu mạnh, 2 muỗm
café mật ong, quấy đều, uống nóng đắp mền cho ra mồ hôi.
- Bị sốt rét nóng lạnh luôn, ho có đờm: Dùng củ gừng tươi, đốt hoặc nướng thật kỹ, gọt sạch, cắt ra từng miếng
mà ngậm, nuốt nước dần dần, bã nhổ đi.

2 - NHỒ RĂNG MÁU RA NHIỀU KHÔNG CÓ THUỐC CẦM MÁU:
Một số nguời khi nhổ răng bị chảy máu, nha sĩ cho thuốc cầm máu cũng không cầm được, cũng có người tự nhiên chân răng chảy máu, không cầm được. Giã gừng rồi nhét vào chỗ chảy máu. 

3 - KHÍ NGHỊCH ĐƯA LÊN CỒ LÀM KHÓ THỞ:
- Gừng sống thắt miếng, ngậm rồi nuốt từ từ xuống là khỏi.
- Hoặc khi thấy có đàm vướng cổ, bắt phải ho khạc cho ra đàm, nhưng đàm dính sát vào cồ, hoặc thấy bụng lạnh, miệng nhạt... cũng ngậm như trên sẽ thấy dễ chịu ngay.

4 - HO LÂU NGÀY KHÔNG DỨT:
- Dùng 200 gr gừng tươi nấu với 300 gr kẹo mạch nha, cho chín dừ, ăn hết là khỏi.

5 - HO CÓ ĐÀM: 
- Gừng giã dập chưng với mật ong ngậm.

6 - CON NÍT HO LÂU NGÀY KHÔNG KHỎI:
- Lấy chừng 200 gr gừng sống, nấu trong nồi lớn thật kỹ, rồi đem tắm cho nó là khỏi.

7 - NGƯỜI BỊ ỤA THỒ RA NƯỚC HOÀI KHÔNG CẦM:
- Lấy gừng tươi l00gr, đổ 2 bát dấm ăn vào nồi đất, nấu còn non l bát, ăn cản ước lẫn cái.

8 - ĐAU BỤNG HOẮC LOẠN VẬT VÃ MUỐN CHẾT:
- Gừng tươi non 200 gr. nấu với l bát nước đồng tiện và 4 bát nước lã, còn lại 2 bát. Chia uống 3-4 lần là khỏi.

9 - ĐAU BỤNG HOẮC LOẠN VÌ BỊ LẠNH QUÁ LÀM CO RÚT GÂN, MUỐN CHẾT:
Gừng sống 100gr, giã nát đổ l bát rượu ngon nấu sôi 2>3 sấp, cho uống nóng. Bên ngoài giã gừng chườm vào chỗ bụng đau.

10 - ĐAU BỤNG HOẮC LOẠN, BỤNG ĐẦU TRƯỚNG LÊN:
                (muốn ói, muốn đi cầu mà không được.)
- Gừng sống 40 gr nấu với 7 bát nước, còn lại 2 bát. Chia uống 2-3 lần.

11 - BỆNH SÁN KHÍ: 
(Do nhiều nguyên nhân gây ra bệnh, làm cho ngoại thận đau dữ dội)
- Lấy nước cốt gừng, lọc bỏ bã, chừng l bát. Vô phòng tắm thật kín gió, tắm làm cho ra mồ hôi khắp mình, rồi ngâm thận
nang vào trong bát nước đó, sẽt hấy ở âm nang cắn nhức như kim châm. Tức thì nó sẽ co rút lại. Để lâu chừng 10 phút
nó sẽ sưng như quả bầu. Sau đó sẽ co lại bình thường, rồi mồ hôi vàng sẽ theo lỗ chân lông mà ra hết.

Bài thuốc chữa bệnh sán khí trên đây, chính Cụ Nguyên Văn Minh tác giả bộ Dược Tính Chỉ Nam, cụ bị chứng sán khí
gần chết, nhưng may được người bạn thân chỉ cách chữa như trên mà sống sót.


12 - MỒ HÔI TRỘM, CHÂN TAY CHẢY NƯỚC:
- 30 gr gừng tươi sao vàng, 5 gr cam thảo. Đổ 1 lít nước nâu kỹ. Uống 3-4 lần trong ngày. (Trích trong 100 Cây Thuốc
Vạn Linh của Lm. Vũ Đình Trác)

13 - BĂNG BÓ VẾT THƯƠNG DO BỊ TÉ, BỊ ĐÁNH SƯNG BẦM:
- Lấy mấy cây hành ăn, cả rễ, lá, 1 củ gừng bằng ngón chân cái, l/2 muỗm cà phê muối. Giã tất cả cho nát, bọc vào miếng vải băng rồi bó vào vết thương, lấy băng vải cuốn chặt, mỗi ngày thay một lần, chỉ vài ngày là máu bầm tan biến hết. Khi bó thuốc này làm cho bệnh nhân cảm thấy rất nóng chỗvết thương, nhưng nhờ vậy mới làm tan máu bầm.

14 - VIÊM XOANG CÓ MỦ:
Viêm xoang trán, có mủ. 
- Ngó sen 30 gr, gừng sống 6 gr. cả 2 thứ giã nát và đắp vào trán từ chân mày lên trán, ra tới 2 bên giữa nửa trán.
- Uống thêm 2 thứ sau đây, để trừ căn: Ké đầu ngựa 40gr. Tân di 20 gr. Cả 2 cùng sao thật dòn, tán nhuyễn. Mỗi lần
uống 2 muỗm cà phê với nước ấm, ngày 2 lần.

15 - BÀ BẦU BỊ NÔN ÓI: (Xin coi lại bài Trà Than Gạo)
- Nguyên vỏ củ gừng nấu nước uống.

16 - ĐỀ PHÒNG KHÍ, GIÓ ĐỘC KHI NGOÀI SỚM:
Có nhiều người phải đi làm từ sáng sớm, đôi khi bị gió độc ngất xỉu. Để đề phòng bị trúng gió độc, trước khi đi nên
nhai một miếng gừng nuốt dần, sẽ chống lại được khí độc

CẤM KỊ DÙNG GỪNG:

Người có tạng nóng, hay lở miệng, táo bón, hoặc người nào thường ra nhiều mồ hôi hoặc đang ra mồ hôi thì không nên
dùng. Người ăn nhiều gừng, lại dùng thời gian lâu có thể sinh ra choét mắt, chảy nước mắt...



Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

*** Chuyện lạ Gừng trị ung thư xem tại đây

ĐU ĐỦ TRỊ BỆNH

Lá non Đu Đủ
Thêm củ Tỏi xào
Chịu đắng ăn vào
Sỏi nào cũng hết.
Nụ hoa Đu Đủ
Hấp ủ mật Ong
Nuốt vô đáy lòng
Ho gì cũng khỏi.
Nhựa cây Đu Đủ
Trị chứng chai chân
Bôi ngày vài lần
Đôi tuần gót đỏ.
Rễ cây Đu Đủ
Đun sắc đậm đà
Hòa thêm muối trắng
Bay mùi hôi chân.
Cọng lá Đu Đủ
Sắc trị ung thư
Họng Hầu thêm Sả
Phổi dăm lát Gừng
Chung nắm lá Hẹ
Cho chứng Liệt Tiền
Dùng vài tháng liền
Còn tiền hết bệnh...

THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA ĐU ĐỦ
* Quả Đu Đủ chín: Chứa khoảng 90% nước, trong đó các chất đường Glucoza 8,5%, còn lại là protein, chất béo, canxi, phốt pho, sắt, vitamin A,B &C.
* Quả Đu Đủ xanh & các bộ phận khác như thân, rễ, lá đều chứa một loại nhựa (mủ Latex), chất này có nhiều nhất ở quả xanh. Trong nhựa (mủ) có men Papain, chất nhựa, chất cao su, các Axitamin, Leuxin, Tyrosin, chất béo, chất mỡ, axit malic và men thủy phân.
* Lá quả & hạt: Chủ yếu ở lá, người ta phát hiện thấy chất ancaloit đắng gọi là cacpain & chất glucoxit gọi là cacpozit.
* Hạt & các bộ phận khác: Người ta phát hiện thấy các tế bào chứa chất myrozin & các tế bào khác chứa chất myronat. Khi giã hạt với nước, hai chất đó kết hợp với nhau sẽ cho tinh dầu có mùi diêm sinh, hắc giống chất isothioxyanat allyl.
* Rễ: người ta phát hiện thấy nhiều cali myronat. Trong lá có nhiều myrozin, trong vỏ hạt cũng nhiều myrozin nhưng không có myronat.

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ CỦA ĐU ĐỦ
* Men Papain: có tác dụng như pepsin của dạ dày & giống men trypsin của tụy tạng trong sự tiêu hóa các chất thịt. Nó làm một số vi trùng gam âm (-) và gam dương (+) ngừng phát triển. Những vi trùng như Staphyllococ, vi trùng thương hàn rất nhạy cảm đối với tác dụng của papain.
* Papain: còn có tác dụng làm đông sữa, tác dụng giải độc đối với toxin & toxanbumin: 18mg papain trong dung dịch 2%o trung tính được 2% rixin là chất độc trong hạt thầu dầu (= 10 liều độc rixin), 2 mg papain trung tính được 4 liều độc của toxin uốn ván & 10 liều độc của toxin yết hầu. Papain còn trung tính được độ độc của ancaloit như 12,5g papain trung tính được một liều độc của stricnin = 2,5mg.
* Nhựa Đu Đủ: được coi là vị thuốc giun ở nhiều nơi. Nó tác dụng trên giun đũa, giun kim, sán lợn trichine nhưng không tác dụng với giun móc ankylostome. (Tuy nhiên cho lợn ăn lá đu đủ để tấy sán thường khó vỗ béo trở lại). Chất papain làm chậm nhịp tim, có người đã dùng nó thay thế thuốc Digitalis. Gần đây người ta phát hiện hạt đu đủ có tính chất kháng sinh mạnh.
Ảnh của Nguyễn Phương Nam.
DÂN GIAN SỬ DỤNG ĐU ĐỦ TRỊ BỆNH:
*** Thay kháng sinh: Hạt đu đủ cũng có thể chữa được bệnh gai cột sống, gai gót chân, gai đầu gối bằng cách: lấy hạt đu đủ cho vào một cái lá, chà sát cho bông hết lớp màng nhầy ra cho bớt nước, rồi bỏ hạt đu đủ vào cối và nghiền nát, sau đó đắp hạt đã nghiền nát vào nơi bị gai cột sống, gai gót chân, gai đầu gối khoảng 30 phút, đắp chừng khoảng 10 đến 15 ngày, nếu bị nặng thì đắp khoảng 1 tháng.
*** Kinh nghiệm giải độc khi bị cá Đuối cắn: Rễ đu đủ tươi 30g + muối ăn 4g giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã đắp chỗ sưng đau. Sau nửa giờ sẽ giảm đau, sau vài ngày sẽ khỏi hẳn.
*** Đu Đủ trị chai chân: xem tại đây
*** Đu Đủ trị ung thư: xem tại đây & tại đây


< N.P.Nam Tổng hợp>
**********************************************************************************************************************************
CHỦ TRỊ:

* Làm tan sạn thận, sạn mật.
* Trị sốt rét, sốt kinh niên (chỉ 1 lần là khỏi).
* Trị bệnh trưởng phong hạ huyết.
* Giúp nhuận tràng, tiêu tích trệ, lợi trung tiện, lợi tiểu.
* Trục giun.
* Lá trị ung thư.
* Trị di, mộng, hượt tinh.
* Trị ho gà.


l - ĐU ĐỦ LÀM TAN SẠN THẬN, SẠN MẬT:


Sỏi thận hoặc sỏi mật, có loại sỏi hạt tròn trơn, không làm cho bệnh nhân đau đớn nhiều vì loại sỏi này có khi lớn gần bằng quả trứng. Nhưng sỏi gai (san hô), giống như quả quả Ké, có gai nhọn đâm vào thịt, làm cho nuớc tiểu thấm vào vết thương sẽ đau khốn khổ. Nhiều người bị sỏi thận, phải mổ tới 9-10 lần mà vẫn chưa hết sỏi. Vì calci ở ngay trong máu, nếu không loại bỏ được tận gốc calci trong máu thì sỏi lại tái phát.
Mổ hay bắn tia phóng xạ thì chỉ như "cắt được cái ngọn thôi". Phương pháp trị bệnh sỏi theo ngoại khoa, có nhiều cách khác nhau, nhưng cách trị bằng trái Đu Đủ xanh, rất dễ dàng và có kết quả tốt.

"Trái Đu Đủ còn xanh, vừa đủ ăn cho 1 người, cắt đầu đuôi, khoét bỏ hạt đi, giữ nguyên vỏ, bỏ chút muối vô trong, nấu
cách thủy cho mềm, để nguội, ăn hết cả vỏ, nếu là trái lớn có thể ăn ngày hôm sau (Nên tìm trái nhỏ ăn 1 ngày thì tốt hơn); ăn trong l tuần."


2 - NHỰA ĐU ĐỦ TRỊ SỐT RÉT RỪNG (1 lần khỏi dứt):

Những người sống ở miền rừng thiêng nước độc, hoặc bị muỗi độc cắn, thường hay bị chứng sốt rét định kỳ, cứ cách ngày hoặc mấy ngày nhất định, đúng giờ là lên cơn sốt, càng cách lâu (1-2 tháng) lên cơn 1 lần càng khó trị.

"Chỉ uống nhựa Đu Đủ 1 lần là khỏi dứt. (Nam 7, nữ 9) giọt nhựa từ cây hoặc quả Đu Đủ xanh, hòa tan trong 1 ly nước lọc với vài hạt muối trắng rồi uống. Bệnh rét kinh niên sẽ không bao giờ trở lại."

3 - NHỰA ĐU ĐỦ TRỊ BỆNH TRƯỞNG PHONG HẠ HUYẾT:

Trường Phong Hạ Huyết là chứng bệnh do phong độc nhập vào ruột, làm cho mướt máu trong ruột, đi cầu xối xả, toàn
máu tươi khác với chứng đi cầu toàn máu bầm do dạ đầy bị loét ...), nếu không biết cách cầm máu, có thể nguy đến
tính mạng.

"Lấy 7 giọt nhựa Đu Đủ (cho nam) và 9 giọt (cho nữ), pha nước uống, cũng dứt bệnh."

4 - SINH ĐẺ DỄ DÀNG, KHÔNG CẦN MỔ:

Rất nhiều trường hợp tới ngày sinh mà không sinh được, hầu hết là phải mổ, sẽ gây hại cho sức khỏe và tốn phí khá
nhiều.


"Quả Đu Đủ xanh, bổ đôi theo chiều dọc, rồi cột vào gan bàn chân bà đẻ, mỗi bên một nửa. Cuống trái Đu Đủ phải quay về gót chân và sau khi sinh xong phải lấy vải thấm nước chùi sạch gan bàn chân ngay, kẻo ra cả ruột. Lỡ vô ý để ruột ra thì phải lấy hạt Thầu Dầu Tía (tì ma tử) tiệm thuốc bắc có bán, giã ra đặp lên đỉnh đầu, thì ruột sẽ thu lại."

5 - ĐU ĐỦ CHỮA DI, MỘNG, HƯỢT TINH:

"Quả Đu Đủ xanh bằng bắp tay, khoét cuống, cho vào 2 cục đường phèn, đậy nắp lại, vùi vào trong than, nướng chín, bóc vỏ xanh bên ngoài bỏ đi, ăn lớp thịt bên trong, ăn cả hột. Chỉ cần ăn 1- 2 quả đã thấy kết quả."


6 - TRỊ UNG THƯ PHỔI, UNG THƯ VÚ:

"Lá & cọng tươi, đổ nước nấu sôi, để nguội, gạn nước đặc uống, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần l bát to. Hay cô đặc lại, để dành uống nhiều lần, uống liên tục 15 đến 20 ngày."

7 - TRÁI ĐU ĐỦ ƯỚP XÁC NGƯỜI:

"Miền bắc Nam Việt thường để xác người quá cố lại thời gian hơi lâu, họ dùng quả Đu Đủ xanh, cắt theo chiều dọc, làm 2 phần, 1 phần nửa lớn đổ đầy muối hột đã rang thật nóng vào trong, rồi úp vào giữa rốn người chết, lấy vải cuốn chặt lại; dưới gầm giường đốt ngọn đèn dầu. Chỉ có vậy mà họ để cả tuần lễ không bị hơi của xác người chết xông ra."

8 - THỊT GIAI HÓA MỀM:

"Nếu nấu thịt mà gặp phải thứ giai, chỉ cần bỏ một nửa quả Đu Đủ xanh rồi hầm, thịt sẽ rất mềm. Ở miền Bắc, ăn cả da trâu, cũng làm như trên, da sẽ mềm, ăn rất ngon.

CẤM KỴ: Người có thai ăn Đu Đủ xanh, có thể làm hư thai.


Nguồn LM. James Vũ, CMC. 1900 Grand Ave. Carthage, MO 64836 -
Đt (417) 358-0058 Fax: (417) 358-0058

Tía tô - Đậu xanh chữa bệnh gút

1- Tía Tô chữa Gút


Nếu bị bệnh gút, trong nhà lúc nào cũng cần có lá tía tô để sử dụng:
- Khi bị lên cơn đau do bệnh gút, lấy 1 nắm lá tía tô rửa sạch, bỏ vào nồi đun thật kỹ, (như sắc thuốc Bắc) rồi uống. Cơn đau sẽ hết ngay trong vòng nửa giờ.
- Hàng ngày dùng lá tía tô ăn như rau sống trong các bữa cơm đề phòng bệnh tái phát. Lúc nào thấy các khớp xương sắp bị sưng tấy lên, dùng lá tía tô nhai và nuốt ngay để chặn cơn đau lại.

Bài thuốc này không có tác dụng phụ, lại có tác dụng nhanh nên người bệnh có thể kiểm chứng công dụng của nó ngay lập tức.
Dùng lâu dài để ngăn bệnh tái phát.


2 - Đậu Xanh chữa Gút


Đây là bài thuốc dân gian của người dân tộc Sán Dìu đã được nhiều người áp dụng và phản hồi về hiệu quả cao của nó.
Theo Đông y, đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ phiền nhiệt, bớt sưng phù, điều hòa ngũ tạng, nấu ăn bổ mát và trừ được các bệnh thuộc nhiệt. Vỏ đậu xanh không độc, có tác dụng giải nhiệt độc, dùng chữa mụn, ung nhọt…
Sở dĩ đậu xanh có thể chữa được bệnh gout do trong đậu xanh có nhiều chất xơ giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm quá trình thoái hóa biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric trong cơ thể gây ra bệnh gout .
Đậu xanh cũng có tác dụng kháng viêm cao, cung cấp đậu xanh trong bữa ăn hàng ngày vừa giúp bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể, vừa có tác dụng giúp phòng ngừa và giảm viêm do gout gây ra một cách hiệu quả.
Khi chế biến các món từ đậu xanh có rất nhiều người có thói quen lọc và bỏ vỏ. Tuy nhiên, theo các chuyên gia dinh dưỡng, vỏ các loại đậu đỗ mới thực sự có tác dụng chính trong việc giải độc. Vì thế, khi ăn, không nên bỏ vỏ.


Đậu xanh nguyên hạt hầm nhừ là bài thuốc giúp bạn thoát khỏi cơn hành hạ của bệnh gút.

Cách chế biến bài thuốc chữa bệnh gút từ đậu xanh:
Đậu xanh để nguyên vỏ, ninh nhừ, (không cho thêm gia vị). Sáng ngủ dậy ăn một bát thay ăn sáng. Tối trước khi đi ngủ ăn một bát. Ăn liên tục như vậy trong 30 ngày. Tùy vào khẩu vị của từng người mà có thể nấu khô hoặc nhão.
Bài thuốc này thực sự rất đơn giản nhưng để có hiệu quả cần phải có sự kiên trì của người bệnh bởi đậu xanh ăn nhiều dễ ngán, nếu không thực sự quyết tâm khó có thể ăn đều đặn trong thời gian 30 ngày.

Lưu ý:

- Đậu xanh có tác dụng làm hạ huyết áp. Vì thế trong quá trình điều trị cần theo dõi huyết áp chặt chẽ. Ngoại trừ những thực phẩm phải kiêng, nên ăn những thực phẩm khác để duy trì huyết áp.
- Không dùng thuốc gì kết hợp vì đậu xanh làm giã thuốc, thuốc không có tác dụng.
- Uống nhiều nước trong ngày.
- Kiêng: Nội tạng động vật, hải sản, thịt chó, nước chè, các chất khó tiêu, các chất kích thích mạnh, cay, nóng.
- Ăn nhiều rau xanh, hoa quả.

********************************************
Thử bài này:
- Lá trầu tươi: 700 g
- Dừa xiêm: 7 trái
Mỗi sáng sớm khi chưa ăn sáng lấy 100 g lá trầu tươi thái nhỏ bỏ vào trái dừa xiêm để khoảng 30-40 phút rót nước ra ly uống cạn. Lưu ý sau khi uống xong chờ đi tiểu rồi hãy ăn sáng.
Vô cùng hiệu nghiệm !

********************************************

Đông Y trị bệnh chai chân.

Chai chân, “mắt cá chân” là một trạng thái tăng sinh, dầy lớp bì và thượng bì, nhất là lớp sừng, do chấn thương, tì ép hoặc cọ xát… lâu ngày tạo thành. Bệnh hay thường gặp ở lòng bàn chân, lòng bàn tay, lưng đốt ngón chân, ngón tay, mắt cá…
Vùng da chai có màu vàng xẫm, to, nhỏ, dày, mỏng tuỳ thuộc thời gian bị và tiến triển của bệnh. Thông thường ở vùng chai không đau, nhưng nếu ở gót chân và bàn chân, sau một thời gian đi bộ xa có thể sưng tấy, viêm nhiễm thành túi mủ, dưới lớp sừng dày gây đau thậm chí còn có thể gây sốt. Bệnh kéo dài có thể trở thành “mắt cá”, tổn thương nổi thành từng đám dầy sừng, màu vàng xẫm, ở giữa có nhân, ấn vào đau nhói. Mắt cá hay gặp ở lòng bàn chân, nhất là các điểm bị tỳ ép, đối diện với ngón chân số 3, 4, 5, có khi ở lưng ngón chân.
Chai chân, > "mắt cá"
Chai chân và mắt cá chân là bệnh tuy không nguy hiểm đến tính mạng nhưng thường gây đau đớn, khó chịu, ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt và lao động của người bị.
Tây y thường chữa Chai chân bằng cách ngâm nước nóng xà phòng cho bở lớp sừng, gọt mỏng rồi băng mỡ Salixilic 5 – 20%. Với mắt cá chân, người ta thường đốt điện hoặc khoét bỏ bằng phẫu thuật. Do phải khoét sâu, vết thương lâu liền, lại dễ tái phát vì thường rất khó lấy hết cả "chân", hoặc để lại sẹo xơ hóa to hơn, phát triển nhanh và gây đau đớn, khó chịu.
Bài thuốc dân gian Đông y dưới đây tuy đơn giản nhưng lại rất hiệu quả trong việc chữa trị chai chân, mắt cá chân

Bài thuốc:

Hạt Gấc 15 hạt;
Ô mai 5 quả;
Nhựa Đu đủ 10g;
Nhựa cây Đại 5g;
Muối 2,5g


Cách chế biến: 
Hạt Gấc bóc bỏ vỏ gỗ để lấy cả vỏ lụa, giã nát; Ô mai bỏ hạt, giã nát. Trộn hai thứ trên với nhựa cây Đu đủ, nhựa cây Đại và muối. Chia thành 5 liều nhỏ và dùng dần

Cách dùng: 
Cho một liều thuốc vào túi nilon, khoét một lỗ nhỏ vừa với vùng da chai, băng ép lại. Khi khô, cho nước đun sôi để nguội vào cho vừa ẩm. Cứ 24 giờ lại thay băng một lần. Đắp liên tục 5 – 7 ngày liền, khi thấy chai chân “chết” quắt đen lại, bong ra thì ngưng đắp thuốc, sát trùng và băng lại để tránh nhiễm trùng. Thường thì khi "mắt cá" đã "chết" teo nhỏ lại sẽ tự đù ra hoặc chỉ cần rút nhẹ là ra, không hề đau đớn gì và cũng không hề chảu máu.
Sau khi lấy "chai chân" ra, nếu vết thương sâu, có thể đắp lá Vông nem giã nát với muối vào chỗ tổn thương để vết thương chóng đầy miệng.

Bài thuốc dân gian: 


RAU BÁT GIẢI ĐỘC CƠ THỂ.

Mảnh bát hay còn gọi là Bát bát, Hoa bát, Dây bình bát, Dưa dại, Dây miểng bát (Nam Bộ).Tên khoa học: Coccinia cordifolia (L.) Cogn, họ Bí (Cucurbitaceae).

1. Đặc điểm hình thái và sinh thái

- Cây thảo nhẵn và mảnh, mọc leo cao, đôi khi dài tới 5m hay hơn. Lá mọc so le, hình tim, có cuống dài, khía 5 thùy nông, mép có răng cưa. Tua cuống đơn, mọc đối diện với lá. Hoa đực và hoa cái giống nhau, mọc đơn độc hay xếp hai cái một ở nách lá, có cuống dài 2cm, rộng 2,5cm, khi chín có màu đỏ và thịt quả đỏ chứa nhiều hạt. Ra hoa, kết quả quanh năm.

- Loài phân bố ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia… Mọc hoang trên nương rẫy, ở rào, lùm bụi từ vùng thấp tới vùng cao 1500m khắp nước ta. Có thể thu hái các bộ phận của cây quanh năm.

2. Công dụng, chế biến và một số bài thuốc
- Lá và quả non dùng làm rau ăn. Ngoài ra, dân gian dùng củ ngâm rượu bóp chữa sưng đau hay các khớp bị viêm; có người dùng dây. Lá Mảnh bát phối hợp với Bùm sụm, Cỏ mần trầu, Dền gai, mỗi thứ một nắm sắc uống để trị huyết áp.

- Theo sách cổ Vệ sinh yếu quyết, Hải Thượng Lãn Ông đã dùng dây Mảnh bát để chữa trúng độc bằng cách lấy rễ củ của cây để tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt uống hoặc rễ phơi khô 30-50g, thái nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 1 lần trong ngày.

- Theo kinh nghiệm dân gian, lá Mảnh bát để tươi, giã đắp chữa mụn nhọt, lở loét, vết cắn do rết hoặc côn trùng, nếu giã nát lá, thêm nước, gạn uống, rồi lấy bã hơ nóng, xoa miết khắp người chữa cảm sốt, đau đầu. Hạt Mảnh bát nghiền nát, trộn với dầu dừa, bơi hàng ngày có tác dụng chữa ghẻ.

- Dây Mảnh bát 50g, phối hợp với rễ cây Chùm ngây 30g. Cam thảo dây 20g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày, chữa đái rắt hoặc bí đái. Để chữa trĩ, lấy lá Mảnh bát tươi 50g, rau Diếp cá tươi 50g, hoa Mào gà 5g, xơ Mướp đốt tồn tính 5g, sắc uống trong ngày (Kinh nghiệm của Phòng chẩn trị Đông y dân lập Phan Thiết).

3. Trồng và chăm sóc


- Thời vụ: Có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung vào đầu mùa xuân từ tháng 2, tháng 3 đến tháng 9.

- Chọn và làm đất: Mảnh bát ưa đất tốt, giàu mùn, tơi xốp, có cấu tượng nhẹ, dễ thoát nước vì vậy nên chọn những chân đất cao ráo, đất thịt nhẹ pha cát như đất phù sa ven sông, suối. Với đất bãi, đất vườn chỉ cần cày bừa, lên luống rộng 1m, luống nổi cách mặt đất từ 20-30cm, giữa các luống có rạch thoát nước và đi lại rộng 30-40cm.

- Mật độ và cách gieo trồng: Có thể ngâm hạt trong nước ấm, vớt ra ủ trong khăn ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo trực tiếp trên hố hoặc gieo vào bầu chăm sóc thành cây giống cứng cáp rồi đem trồng. Hố trồng 20x20x20cm được làm trên luống, khoảng cách giữa các hố từ 0,8-1m. Mỗi hố bón 1-2kg phân chuồng hoai. Nếu gieo hạt thì mỗi hốc gieo 2-3 hạt, khi đã mọc thì chọn giữ lại một cây khỏe mạnh còn nhổ bỏ hoặc để trồng dặm cho những hốc không mọc hoặc mọc yếu.

- Chăm sóc, thu hái: Khi cây đã bén rễ, hồi xanh nên tưới 7 ngày/lần bằng nước phân chuồng pha loãng. Cắm choái cho cây leo, cắm theo hình mái nhà cao từ 1-1,5m, kết hợp nhổ sạch cỏ. Khi cỏ đã bò lên phủ các choái có thể thu ngọn và lá non làm rau và kích thích xung hóa chồi.

Đây là cây mọc hoang tự nhiên khá phổ biến. Trong thực tế loài rau này ít được trồng mà chủ yếu là tiến hành chăm sóc cây tự nhiên theo hướng lấy rau ăn. Đối với loài này cần cắm cọc và làm giàn leo. Biện pháp thông thường dễ áp dụng lá bứng cây con hoặc gốc cây mẹ trồng quanh hàng rào để tận dụng giàn leo cho cây.

Nguồn : Rau rừng Việt Nam

CÔNG DỤNG CỦA CÂY TẦM BÓP

CÂY TẦM BÓP 

Cây tầm bóp

1-Tên gọi và danh pháp khoa học

-Tên thường gọi: Cây Tầm bóp, cây Thù lù cạnh.
-Tên gọi khác: Cây bôm bốp, Cây lồng đèn, Luu cái và còn nhiều tên khác.
-Tên tiếng Anh: Cut-leaved groundcherry, Tooth-leaved bladder cherry…
-Tên khoa học: Physalis angulata L.
-Tên đồng nghĩa:
-Physalis esquirolii Le1vl.&Vant.
-Physalis minima L.
-Physalis pubescens auct. Non L.
-Các loài tương cận:
-Thù lù Nam Mỹ: Physalis peruviana
-Thù lù nhỏ: Physalis minima =Ph. Perviflora= Ph. Pubescens.
-Cây hoa lồng đèn Trung Quốc (Physalis alkekengi)

2-Phân loại khoa học (Scientific classification)


Giới (regnum):Thực vật (Plantae)
Ngành (divisio):Thực vật có hoa (Magnoliophyta)
Lớp (class):Thực vật hai lá mầm (Magnoliopsida)
Bộ (ordo):Cà (Solanales)
Họ (familia):Cà (Solanaceae)
Chi (genus):Thù lù (Physalis )
Loài (species):

2-Nguồn gốc và phân bố
-Chi Thù lù (Physalis) thuộc Họ Cà (Solanales) bao gồm nhiều loài thực vật có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc cựu thế giới và tân thế giới với khoảng 75-90 loài.
Đa số các loài trong chi này có nguồn gốc từ Mexico ở Nam Mỹ (có ít nhất 46 loài đặc hữu ở nước này).
Các loài trong Chi Thù lù là cây thân thảo đứng sống một năm hay nhiều năm, có chiều cao từ 0,4 đến 3 mét. Hầu hết các loài yêu cầu ánh nắng mặt trời đầy đủ và khí hậu khá ấm áp và chịu nhiệt độ nóng. Một số loài rất nhạy cảm với sương giá, nhưng có một số loài chẳng hạn như loài thù lù Trung Quốc, P. alkekengi, chịu đựng được nhiệt độ rất lạnh và sống được qua mùa đông.
Các loài trong Chi thù lù có đặc trưng là quả khi chín có màu cam và tương tự về kích thước, hình dạng và cấu trúc giống như quả nhãn lồng (chùm bao) với ruột quả có nhiều ngăn rộng và một số loài có quả ruột đặt giống như quả cà chua, là loại quả ăn được với tên gọi là quả anh đào đất (Groundcherry).
Các loài trong chi Thù lù quả nằm một phần hay nằm gọn hoàn toàn trong một vỏ mỏng như bao giấy lớn có nguồn gốc từ các đài hoa. 
Kể từ khi người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha chiếm Nam Mỹ làm thuộc địa, các loài cây thù lù được giới thiệu và phát tán khắp các châu lục và chúng thích nghi trở thành cây mọc hoang dại trên khắp thế giới.
Hiện nay ở Nam Mỹ còn tiếp tục xuất khẩu quả thù lù đặc ruột (Physalis peruviana) đến các nước ở Bắc Mỹ, Châu Âu và Châu Á như một loại quả anh đào đất (Groundcherries) có giá trị hơn hẳn quả tầm bóp sống hoang dại ở Châu Á.
-Loài Cây Tầm bóp (Physalis angulata) có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, sau này trở thành cây liên vùng nhiệt đới. Thấy chúng mọc hoang khắp nơi, ở trên các bờ ruộng, bãi cỏ, đất hoang hay ven đường làng quê ở khắp nam Châu Âu, Châu Phi, Châu Á, Châu Úc và các đảo ở Thái Bình Dương. Ngoài ra cũng còn thấy ở ven rừng từ vùng thấp đến vùng có độ cao 1.500m so với mặt nước biển.
Ở Việt Nam cây tầm bóp không rõ xuất hiện từ lúc nào, nhưng đã từ lâu nó đã trở thành cây mọc hoang dại trên mọi miền đất nước và được người dân dùng làm rau ăn và dùng làm thuốc trong dân gian để chữa bệnh.
Cây tầm bóp do có ruột rổng, khi đập mạnh quả vở tạo ra tiếng nổ là đặc thù của loài này.
Trong ngôn ngữ dân gian Việt Nam, quả tầm bóp có rất nhiều tên gọi khác nhau tùy từng địa phương, có thể kể đến các tên: lồng đèn, lù đù, thù đù, thù lù, thù lù cạnh, bôm bốp, bùm bụp, lụp bụp, đùm đụp, đồm độp, bù lột, tòm bóp...

3-Mô tả

Tầm bóp là cây thân thảo hằng niên, mọc hoang quanh năm.
-Thân: Thân cao 50 - 100 cm, phân nhiều cành. Đường kính thân tròn, 1-2 cm.
-Lá: Lá mọc so le, hình bầu dục, chia thùy hay không, dài 30 - 35mm, rộng 20 - 40mm; cuống lá dài từ 15 - 30mm.
-Hoa: Hoa mọc đơn độc ở nách lá, có cuống mảnh, dài khoảng 1 cm. Đài hình chuông, có lông, chia ra từ phía giữa thành 5 thùy, tràng hoa màu vàng tươi hay màu trắng nhạt, có khi điểm những chấm màu tím ở gốc hoa. Đài đồng trưởng bao lấy quả nên có tên là quả lồng đèn. 
-Quả: Quả mọng tròn, nhẵn, lúc non màu xanh, khi chín màu đỏ, có đài cùng lớn với quả, dài 3-4 cm, rộng 2 cm, bao trùm lên ở ngoài như cái túi, hạt nhiều hình thận. Ruột quả có nhiều không gian rổng, khi bóp quả vỡ phát ra tiếng “bộp”.
-Hạt: Quả chứa nhiều hạt nhỏ nhỏ hình thận, hạt có ngoại nhũ khi chín ăn có vị chua, ngọt.
Cây ra hoa kết quả quanh năm.

Hoa và quả cây tầm bóp

Quả cây tầm bóp vừa chín

Quả cây tầm bóp chín vàng

4-Thành phần dinh dưỡng

+Theo nguồn của Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thành phần dinh dưỡng trong 100g quả tầm bóp/thù lù
Năng lượng
49kcal (205kJ)
Protein
1,5g
Cacbohydrat
11g
trong đó lượng đường
3,9g
Chất béo
0,5g
Chất xơ
0,5g
Protein
0,9g
Lượng nước
81%
Các khoáng chất và Vitamin

Lưu huỳnh
6 mg
Kẽm
0,1 mg
Sắt
1,3 mg
Natri
0,0005g
Magiê
8 mg
Canxi
12 mg
Phốt-pho 39 mg
39 mg
Clo
2 mg
Vitamin C
28 mg
Nguồn: Cơ sở dữ liệu dinh dưỡng của USDA

Theo chất khô: trong 100g quả Tầm bóp có 80% Cacbohydrat, 12% Protein, 8% chất Béo.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tam_bop
+Theo nguồn phân tích của Thạc sĩ Nguyễn Đặng Toàn Chương
Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai:

Giá trị dinh dưỡng trong 100 g phần ăn được của quả Tầm bóp
Nước
78.9 g
Đạm
0.054 g
Chất béo
0.16 g
Chất xơ
4.9 g
Canxi
8.0 mg
Photpho
55.3 mg
Sắt
1.23 mg
Vitamine A
1.613 mg
Vitamine B1
0.101 mg
Vitamine B2
0.032 mg
Vitamine PP
1.73 mg
Axit Ascobic
43.0 mg

Nguồn: Thù lù (Physalis peruviana L.) một loại cây mới đầy tiềm năng
ThS. NGUYỄN ĐẶNG TOÀN CHƯƠNG-Sở Khoa học và Công nghệ Gia Lai

5-Công dụng của cây tầm bóp

a-Lá và đọt non của cây tầm bóp được dùng làm rau
Ở Việt Nam cây tầm bóp mọc hoang dại và phát triển mạnh mẻ từ vùng đồng bằng ven biển cho đến vùng rừng núi có độ cao đến 1500 m.
Dân gian Việt Nam đã sử dụng rau Tầm bóp từ rất lâu và ở các vùng quê không ai không biết đến rau Tầm bóp, trước đây khi kinh tế còn gặp nhiều khó khăn vào những thời kỳ giáp hạt, rau Tầm bóp được sử dụng như một loại rau “cứu đói”.

Rau tầm bóp

Rau tầm bóp luộc (cùng rau rừng khác)

Rau tầm bóp xào tỏi
Thực tế cho thấy cây mọc ở vùng có độ cao so với mặt nước biển ăn bùi và thơm hơn cây mọc ở vùng đồng bằng, đặc biệt là khi cần làm thuốc người ta thường tìm đến cây rau Tầm Bóp của các vùng núi cao.
Do những đặc tính như vậy nên hiện nay rất nhiều người sử dụng rau Tầm bóp đặc biệt là người dân ở những thành phố lớn và họ coi đây là một loại rau sạch vì hiện nay nó vẫn mọc hoàn toàn hoang dại và đặc tính dinh dưỡng và chữa bệnh của nó.
Rau Tầm bóp có thể chế biến thành nhiều món ăn như nấu canh với ngao, cua,  tôm hoặc ăn lẩu, luộc xào.. đều rất ngon.

Rau tầm bóp là món rau đải khách ở Lào Cai
Rau Tầm bóp hiện nay đang được Công ty Biggreen phối hợp với dự án rau bản địa của Bắc Hà - Lào Cai đưa vào chương trình sản xuất để cung cấp cho nhu cầu của người dân Hà Thành, quý khách có nhu cầu mua sản phẩm rau Tầm bóp có thể liên hệ với công ty Biggreen để được phục vụ tốt nhất.
Địa chỉ:
Công ty Thực phẩm sạch Biggreen Việt Nam
Cơ sở 1: Số 113 Hoàng Văn Thái, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: 04.6660.5442   04.2242.6062   *  Fax: 04.62857520
Cơ sở 2: Số 109E3 (Đối diện số 79) Thái Thịnh, Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 04.6682.4693  * Fax: 04.62857520
Cơ sở 3: Số  44 Ngọc Khánh, Quận Ba Đình, Hà Nội
Điện thoại: 04.6292.4281   * Fax: 04.62857520
Email: sales@biggreen.com.vn  
Nguồn: http://www.biggreen.com.vn/
b-Quả chín của cây thù lù được dùng như trái cây
Cây tầm bóp hay thù lù cạnh là quả ruột rổng không có giá trị để ăn quả. Tuy nhiên loại cây thù lù ruột đặc Nam Mỹ có tên khoa học là Physalis peruviana có quả như quả cà chua nhỏ có vị chua ngọt và rất bổ dưỡng được xuất khẩu sang Bắc Mỹ và Châu Âu với tên gọi là quả anh đào đất (groundcherry) hay quả cà chua dại (wild tomato), rất được nhiều người ăn kiêng ưa chuộng. Ở Việt Nam cây thù lù hay thù lù lông có tên khoa học là Physalis peruviana, cùng loài nhưng khác giống với cây thù lù đặc ruột Nam Mỹ và cây thù lù nhỏ có tên khoa học là Physalis minima cũng có ruột đặt gần giống như loài này nhưng có quả nhỏ và kém ngon hơn.
Thiết nghĩ ta nên nhập loài cây mới này để làm phong phú thên nguồn rau sạch và cây ăn quả mới giàu dinh dưỡng.

Quả thù lù Nam Mỹ
c-Các bộ phận của cây tầm bóp được dùng làm thuốc
c.1-Theo Đông y:
Trong dân gian và Đông y có nhiều kinh nghiệm dùng các bộ phận của cây tầm bóp để chữa một số bệnh.
+Ở Việt Nam:
Theo thaythuoccuaban.com thì cây tầm bóp (Physalis angulata) có các đặc tính và tác dụng như sau:
-Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Physalis Angulatae.
-Nơi sống và thu hái: Gốc ở Mỹ châu nhiệt đới, trở thành liên nhiệt đới, mọc hoang ở khắp nơi trên các bờ ruộng, bãi cỏ, đường làng, đất hoang, ven rừng từ vùng thấp đến độ cao 1500m. Thu hái cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô dùng dần.
-Tính vị, tác dụng: 
Toàn cây có vị đắng, tính mát, không độc; có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, khư đàm chỉ khái, nhuyễn kiên tán kết.
Quả có vị chua, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt lợi tiểu, tiêu đờm.
-Công dụng, chỉ định và phối hợp: 
Thường dùng trị cảm sốt, yết hầu sưng đau, ho nhiều đờm, phiền nhiệt nôn nấc. Dùng 20-40g khô sắc uống.
Dùng ngoài trị nhọt vú, đinh độc, đau bìu dái. Dùng 40-80g cây tươi giã vắt lấy nước cốt uống, bã thì dùng đắp; hoặc nấu nước rửa.
Quả Tầm bóp ăn được và dùng chữa đờm nhiệt sinh ho, thủy thũng và đắp ngoài chữa đinh sang, rễ tươi nấu với tim lợn, chu sa dùng ăn chữa được chứng đái đường.
Nguồn: thaythuoccuaban.com
-Một số bài thuốc khác
-Dùng trị viêm họng, khan tiếng, ho khan, ho có đờm đặc, trị tiểu ít, ban đỏ, thủy đậu (trái rạ), bệnh tay chân miệng, cúm gia cầm: Liều dùng 15 - 30 g cành mang hoa lá khô (tươi 50 - 100 g) sắc uống trong ngày. Dùng 3 - 5 ngày liền. (Nguồn: Chuyên đề sức khỏe KHPT).
-Lá cây tầm bóp rất tốt cho dạ dày, do đó ngoài việc dùng tầm bóp làm thuốc chữa bệnh người ta còn dùng thứ cây này như một vị rau ăn hàng ngày. Rau tầm bóp ăn hơi đắng nhưng thanh mát dễ ăn. Lẩu rau tầm bóp cũng là một món ngon, lạ chúng ta nên thưởng thức. (Theo BACSI.com -TTVN).
-Quả Tầm bóp ăn được và dùng chữa đờm nhiệt sinh ho, thủy thũng và đắp ngoài chữa đinh sang, rễ tươi nấu với tim lợn, chu sa dùng ăn chữa được chứng đái đường. (Theo BACSI.com -TTVN).
-Những người hay lênh đênh sông nước nên ăn quả này thường xuyên vì lượng Vitamin C và B1, tiền vitamin A trong quả tầm bóp rất cao nên rất tốt cho cơ thể, có thể chữa bệnh Scorbut vì trên biển không có hoa quả. Ngoài ra quả tầm bóp còn có thể phòng ngừa các bênh về đường tiết niệu và viêm thận ví dụ sỏi thận, sỏi bàng quang và chữa bệnh gút rất tốt. (Theo BACSI.com -TTVN).
-Bài thuốc trị ung thư (tử cung, họng, phổi, đại tràng):
Cây tầm bóp hay Thù lù cạnh (hoặc Thù lù nhỏ) cành mang hoa, trái, lá khô 30g (tươi 100g). Bạch truật 20g. Cát cánh 10g. Mạch môn 10g. Huyền sâm 10g. Hoàng cầm 10g. Cam thảo 4g.
Dược liệu rửa sạch, chặt nhỏ, đổ 4 chén nước, sắc còn 2 chén, chia 2 lần uống trong ngày (có thể sắc thêm nước nhì uống buổi tối). Dùng 15 - 20 ngày liền. Nghỉ 10 ngày, dùng tiếp đợt thứ 2, thứ 3. (Nguồn: Chuyên đề sức khỏe KHPT).
+Ở nước ngoài:
-Ở Ấn Độ, toàn cây được sử dụng làm thuốc lợi tiểu; lá được dùng trị các rối loạn của dạ dày.
-Ở Africa, họ ăn lá cây đã được nấu chín hoặc dùng như một tấm băng để băng các vết thương bị nhiễm trùng.
-Ngoài ra, còn có cây Thù lù nhỏ (Physalis minima) cũng được dùng làm dược liệu (nhất là trong y dược cổ truyền Trung Quốc, gọi Thù lù nhỏ là Thiên bao tử).
Cây Tầm bóp ở Việt Nam có rất nhiều, tuy nhiên ít được sử dụng dù có một số dược tính tốt.
c.2-Theo Tây y:
Có nhiều nghiên cứu khoa học về dược tính của cây Tầm bóp hay Thù lù cạnh (Physalis angulata) với những kết quả được công bố như sau:
1-Thử nghiệm tại Trường dược, Đại học (ĐH) y khoa, Viện ĐH quốc gia Taiwan ghi nhận physalin F và physalin D [trích từ nguyên cả cây tầm bóp hay thù lù cạnh (Physalis angulata), bằng ethanol] có hoạt tính diệt tế bào trên 8 dòng tế bào ung thư:
5 dòng loại ung thư nơi người gồm :
-HA22T (ung thư gan - hepatoma),
-Ung thư cổ tử cung, ung thư KB (mũi - khí quản),
-Ung thư ruột Colo 205,
-Ung thư phổi (Calu-1)
và 3 dòng ung thư ở động vật:
-Melanoma (H1447),
-Hep-2
-và 8401 glioma (não).
Hoạt tính diệt tế bào ung thư mạnh nhất đối với ung thư gan và tử cung. Riêng physalin F còn có tác dụng chống u bướu loại P338 lymphocytic leukemia khi thử trên chuột (Nguồn: Anticancer Research Số 12-1992).
2- Nghiên cứu tại Khoa vi trùng và miễn dịch học, ĐH y khoa quốc gia Cheng Kung (Taiwan) ghi nhận các dịch chiết từ Cây tầm bóp (Physalis angulata) có những hoạt tính điều hòa hệ miễn dịch như cải thiện đáp ứng blastogenesis (lý thuyết cho rằng các đặc điểm di truyền được chuyển từ cha mẹ sang con cái bằng mầm nguyên sinh); kích hoạt các tế bào T; gia tăng đáp ứng kháng thể… (Nguồn: American Journal of Chinese Medicine Số 20-1992).
3- Nghiên cứu tại Trường dược, ĐH Houston (Texas) ghi nhận một flavonol glycosid trích từ lá của cây tầm bóp (Physalis angulata) bằng methanol: myricetin 3-o-neohesperidosid có tác dụng diệt tế bào ung thư loại murine leukemia P-338, epidermoid carcinoma KB-16, ung thư phổi adenocarcinoma A-549 ở những nồng độ ED50 theo thứ tự 0,048, 0,50 và 0,55 microgram/ml. (Nguồn: Fitoterapia Số 72-2001).
4- Nghiên cứu tại Viện khảo cứu các hợp chất thiên nhiên thuộc ĐH y khoa Kaohsiung (Taiwan) về hoạt tính chống ung thư gan của cây Tầm bóp (Physalis angulata)  ghi nhận: Các dịch chiết toàn cây bằng nước và bằng ethanol được đánh giá về hoạt tính chống ung thư gan trên các dòng tế bào Hep G2, Hep 3B, PLC/PRF/5, ghi nhận hoạt tính chống ung thư do gây ra hiện tượng tế bào tự hủy (apoptosis) phối hợp với những rối loạn chức năng của các mitochondria nơi màng tế bào bị ung thư. Tác dụng diệt bào này không xảy ra nơi các tế bào gan lành mạnh. (Nguồn: Life Sciences Số 74, 2-2004).
5- Nghiên cứu tại Nhật (Khoa dược, ĐH Fukuoka) ghi nhận phần trên mặt đất của cây tầm bóp hay thù lù cạnh (Physalis angulata) có hoạt tính diệt được một số ký sinh trùng, đặc biệt nhất là Trypanosoma cruzi - tác nhân gây bệnh Chagas do rệp lây truyền (Nguồn: PIMD: 14758032 PubMed).
6- Một số các nghiên cứu khác chứng minh được hoạt tính in vitro của dịch chiết cây tầm bóp (Physalis angulata) trên các vi khuẩn mycobacterium và mycoplasmas, một số vi khuẩn gram dương và gram âm như Pseudomonas, Staphylococcus, Streptococcus. Riêng tại Nhật có một số nghiên cứu chú trọng đến các hoạt tính “in vitro” chống lại các siêu vi khuẩn bại liệt, Herpes simplex I, sởi, ban hồng, cháy rạ và cả HIV-I (do ức chế sao chép ngược).
7- Thành phần hóa học: Cây chứa một số hợp chất loại flavonoid như anthocyanin, alcaloid như withaminimin, withangulatin… và steroid: trong đó quan trọng nhất là các whitasteroid như physalin A-D, F, L-O, physagulin A-G, physagulid. Ngoài ra còn có chlorogenic acid, cholin, xocarpanolid, myricetin, phygrin.

Quả tầm bóp được thu hái làm dược liệu (Ảnh: duocanbinh.vn).
d- Các công dụng khác của cây tầm bóp
- Quả để khô có thể làm mứt.
- Cây có thể trồng như cây cảnh trong vườn.

Cây hoa lồng đèn Trung Quốc-Chinese Lantern (Physalis alkekengi)

6-Kết luận

Cây tầm bóp hay Cây thù lù cạnh là cây mọc hoang dại ở khắp nước Việt Nam từ vùng đồng bằng đến vùng núi có độ cao 1500 mét. Cây càng ở độ cao nhiều thì chất lượng dinh dưỡng và giá trị dược liệu càng tốt hơn.
Do là loài cây hoang dại nên ít được chú ý khai thác để dùng làm rau sạch, loài cây này mọc tự nhiên nơi hoang dã nên hoàn toàn sạch, không bị ô nhiểm hóa chất và rác thải sinh hoạt. Rất để tìm và dể trồng, trồng một lần cây có thể tái sinh sản bằng hạt tại chổ nên ta sẽ có thữa rau chỉ trồng một lần nhưng sử dụng nhiều năm.
Ở nông thôn nên khai thác nguồn rau sạch này bằng cách thu hái rau rừng có sẳn.
Ở thành thị nên tìm mua loài rau rừng này ở dạng rau sạch do ngày càng có nhiều công ty chuyên sản xuất rau rừng để bán ở các siêu thị.
Ngoài cây tầm bóp, cây thù lù có tên khoa học là Physalis peruviana có giá trị được liệu tương tự nhưng có ruột quả đặc (dùng như trái cây) đang được khai thác và cung ứng trên thị trường thế giới đã đem lại nhiều nguồn ngoại tệ cho các nước Nam Mỹ có điều kiện khí hậu như ở Việt Nam.
Cần nhập những giống mới được chọn lọc thay cho các giống củ đã thoái hóa qua hàng trăm năm tồn tại.
Thiết nghĩ các cơ quan khoa học và y tế nên có những nghiên cứu, tuyên truyền và vận động nhân dân trong cả nước lưu ý phát triển và sử dụng Cây tầm bóp (Physalis angulata) và Cây thù lù (Physalis peruviana) để làm phong phú thên nguồn rau sạch và quả sạch vì sức khỏe của cộng đồng người Việt Nam trong tương lai.

Quả thù lù Nam Mỹ

Ruột quả thù lù Nam Mỹ